Họa sĩ số CG – tô vẽ sáng tạo

Họa sĩ số CG (CG artist) là một nghề thuộc ngành Đồ họa máy tính – Computer Graphics ( CG ). CG artist là tên gọi chung các họa sĩ làm việc trên môi trường các phần mềm đồ họa máy tính. Modeller , texturing artist , shader , lighting artist , rigger ( character technical artist – char TD ) , animator , simulation artist và effect artist. Tất cả những người này đều có thể gọi là họa sĩ CG.




CG artist làm những gì?



Họ vẽ!


hay phức tạp hơn, tất cả những gì họ làm mục đích cuối cùng vẫn là “hình tượng hóa sự sáng tạo” – “visualizing ideas”. Nó có thể là một bộ phim hoạt hình , một đoạn phim 3D visualization ( diễn họa kiến trúc, y học, thiên văn học,… ), những hiệu ứng về kỷ xảo điện ảnh, games , . .. và vô vàn những ứng dụng khác .


phim hoạt hình là đại diện tiêu biểu nhất của CG. [ Up (2009) – Pixar Animation Studios. ]

Một ví dụ kinh điển qua nhiều thời kì lịch sử ngành CGI là King Kong. Năm 1933, KING KONG lần đầu xuất hiện trên màn ảnh ( đạo diễn Merian C. Cooper and Ernest B. Schoedsack) ngay lập tức chinh phục người xem ( trường hợp rất giống với Avatar -.đạo diễn James Cameron năm 2009 ). Ý tưởng và cách thể hiện, cốt truyện , âm thanh , hình ảnh và kỹ xảo, tất cả đều là đỉnh cao của một thời. Thế nhưng điều mà sau đó mọi người đều biết đó là ( sau khi xem behind the scene hoặc đọc những bài báo về hậu trường phim ) : một câu chuyện được kể bằng việc dàn dựng những mô hình nặn tượng ( Kong và thành phố NY được nặn từ đất sét và điều khiển bằng hệ thống xương điện tử ) một cách khéo léo, tinh vi và xào thuật.

King Kong 1933 – nặn và tạo hình từ đất sét và được điều khiển bằng những bộ xương điện tử.

 
 
 

Gần một thế kỷ sau đó, Kong lại xuất hiện ( King Kong 2005 -.đạo diễn Peter Jackson ) và lần này , mọi người đều tin đó là thật. Từ mắt mũi tay chân da lông và đặc biệt : chuyển động và cảm xúc đạt đến một ngưỡng mới của những nhân vật CGI ( Computer Generated Image ) – những nhân vật được dựng từ đồ họa máy  tính. Vẫn ý tưởng đó và một cốt truyện cũ , thế nhưng , mọi thứ đều khác hẳn và thu hút. Hãy nhìn xem CG đã làm được gì cho điện ảnh. Hiện thực hóa những ý tưởng của con người ( trong trường hợp này là đạo diễn ) lên màn ảnh một cách chân thực và sống động. Và họa sĩ CG là những người đảm nhận công việc đó nặng nề và thú vị nhất .



KING KONG 2005 – bước tiến mới về đồ họa CGI.

Để làm một CG artist


 
 
 
Bạn cần phải có sự yêu thích đồ họa, khiếu thẩm mỹ và một chiếc máy tính đủ mạnh.

Vì sao phải là một chiếc máy tính đủ mạnh? Vì nếu như tốc độ xử lý của CPU và Card màn hình không đủ, quá trình bạn thao tác trên một phần mềm CG như Autodesk Maya ( một trong những chương trình CG phổ biến trên thế giới hiện nay của hãng Autodesk ) sẽ rất chậm hoặc xấu hơn, phần mềm có thể bị crash và máy có thể treo bất kì lúc nào.

CG “tự hào” là một trong số những ngành tiêu xài nhiều tiền nhất cho việc mua và “sửa” máy tính ( dây chuyền ứng dụng cg rất phức tạp và chạy rất nặng nên việc bảo trì, sửa chữa và nâng cấp hệ thống luôn cần thiết ). Việc đầu tư một công ty phần mềm và một studios kỹ xảo là khác hẳn , đặc biệt ở khâu thiết kế và trang bị phòng làm việc .

thiết kế và trang bị phòng làm việc “xa xỉ”.


Ngoài máy tính, mức giá của một phầnmềm CG củng rất cao. Một bản copy ( lisenced –  mỗi máy 1 lisenced ) một  phần mềm CG thương mại hiện nay có giá từ 5000 – 8000 USD. Nhưng bù lại, những công ty kỹ xảo lớn như ILM , tippet , Sony ,Weta có thể ra giá từ vài chục ngàn đến chục triệu USD cho những đoạn kỹ xảo mà họ thực hiện.

Autodesk Maya. một trong những phần mềm cg phổ biến nhất hiện thời.

màn hình làm việc phần mềm Autodesk Maya.

Như vậy , máy tính và phần mềm là những thứ mà bạn cần trang bị bên cạnh niềm đam mê đồ họa và con mắt thẩm mỹ trên hành trình trở thành một họa sĩ CG.


Modeller – Họa sĩ dựng hình 3D ( CG modeling artist )

Là những người tạo ra các mô hình 3D như nhân vật, nhà cửa, cây cối xe cộ… Modeling – dựng hình là khâu đầu tiên trong chu trình 3D của một dự án CG.

Là những bậc thầy về hình khối, họ rất giỏi về hình khối ( proportion & topology ) , digital sculpture ( điêu khắc số ) và có kiến thức sâu rộng về anatomy ( thuật giải phẫu ) . Một số người khi mới học về thiết kế 3D thường có những nghĩ suy đại loại là đây là khâu dễ và không quan trọng . Ngược lại, khó và luôn quan trọng . Một mô hình tồi sẽ dẫn đến những hệ quả tồi về khả năng áp vân ( texturing ) , bề mặt ( shade ) , đổ bóng ( lighting ) và tương tác ( simulation ) . Thậm chí nó sẽ gây ra những lỗi về deformation trong chuyển động của nhân vật, điều tồi tệ nhất có thể.


là những bậc thầy về hình khối.


Tóm lại không có gì dễ dàng cả, nó tùy thuộc vào mức độ mà bạn muốn đạt được.

Texturing Artist – Họa sĩ áp vân 3D

Tạo ra những ảnh map để áp lên bề mặt vật liệu ( shade ) . Nói chi tiết , chúng ta có những map quan trọng mà một texturing artist cần phải vẽ như sau:

1.color map ( màu sắc của vật liệu, còn gọi là diffuse map ) ,

2.bump map ( độ lồi lõm vi mô của vật liệu ) ,

3.specular map ( khả năng phản chiếu của bề mặt vật liệu với ánh sáng ).

4.displacement map ( độ lồi lõm vĩ mô của vật liệu ) ,

5.shadow map ( bóng đổ của vật liệu ) ,

6.nomal map ( một dạng displacement map hiện đại , hiệu quả hơn về thời gian nên được sữ dụng nhiều trong ngành công nghiệp game – nơi mà hiệu suất về realtime rendering – kết xuất hình ảnh thời gian thực – được đặt lên hàng đầu ) ,

7.reflection map ( khả năng phản chiếu của bề mặt với môi trường – khác với specular map là khả năng phản chiếu lại áng sáng ).

những ảnh map tỉ mỉ về chi tiết được vẽ bởi texturing artist.

Người làm về texture có kiến thức rất tốt về các bề mặt vật liệu và cách mà nó tương tác với môi trường xung quanh . Ngoài ra , họ còn có kiến thức về màu sắc và cách phối ghép chúng với nhau .


Một điểm cần chú ý là phần mềm chính mà các texuring artist dùng không phải các chương trình 3D mà là Photoshop, Gimp…- những chương trình x ử l ý ảnh 2D thuần túy hoặc những chương trình chuyên dụng về vẽ textures 3D như BodyPaint. Cho thấy rằng CG artist là một cách gọi. Với những khâu riêng biệt, họ sữ dụng những phần mềm chuyên biệt khác.


Đối với những studio vừa và nhỏ , thậm chí một vài studio lớn những năm về trước , đôi khi texturing artist kiêm luôn cả phần shading của vật liệu . Tuy nhiên , tại thời điểm năm 2008 này , mọi thứ có vẻ trở nên phức tạp hơn và những đòi hỏi về sản phẩm ngày càng cao hơn , điều đó bắt buộc quy trình sản xuất phải trở nên chuyên môn hơn và do đó texuring và shading là những khâu riêng biệt .


Shader ( Shading artist )

Xuất sắc về vật liệu , các bề mặt . Có kiến thức vững chắc về ánh sáng. Hiểu biết sâu rộng hệ thống shade của một phần mềm CG mà studios họ đang làm việc sử dụng .

Shading là một khâu cực kì khó nhai và tiêu hóa. Kĩ thuật tiên tiến nhất cho việc shading những bề mặt có đặc điểm như da của con người là “Sub Surface Scattering” ( gọi tắt là SSS ) vẫn còn là khâu làm nhức não nhiều nhà khoa học máy tính làm việc trong ngành CG .

Dĩ nhiên , công việc của một shader không phải là ngồi chờ công nghệ mà phải sữ dụng những công nghệ đã có để “chế biến” ra những thủ thuật nhằm thể hiện những vật liệu một cách hiệu quả nhất khi lên màn ảnh.

Về thực chất, những hình ảnh mà CG artists tạo ra là sản phẩm sáng tạo. Nó có thể dựa trên những đặc điểm của thế giới thật nhưng phải mới mẻ và lôi cuốn. Có câu nói nổi tiếng của một nghệ sĩ hoạt hình: “đừng cố làm cho nó giống thật, hãy làm cho nó đáng tin” ( “don’t make it real, make it believable” ). Cho nên nên quan niệm CG chỉ là công cụ , cách nhìn và sự thể hiện nó mới là chìa khóa của họa sĩ CG.


Lighting artist

Bên cạnh sự thấu hiểu về ánh sáng, photography luôn luôn là kĩ năng cần thiết của một lighter , là gốc rễ của họ . Có sự hiểu biết uyên thâm về vật liệu ( một lần nữa cho thấy sự gắn kết rất chặt chẽ giữa những cg skills –  kĩ năng đồ họa có mối liên hệ với nhau: “mastering one , concert relative” ).


Một Lighting artist giỏi có thể nhìn thấy được đường đi của ánh sáng và cách thức mà nó tương tác với môi trường xung quanh . Kiến thức về vật lí , hóa học và toán học đặc biệt hữu ích trong nghề này .

Người làm về lighting cần biết sâu sắc về cấu trúc rendering mà chương trình hoặc hệ thống mà họ sữ dụng ( chuyên về khâu này thuộc về software technical artist ).

Hiện nay có 3 bộ render phổ biến được sữ dụng rộng rãi nhất là:

Mental Ray: là bộ render sữ dụng nhiều nhất cho kỹ xảo (visual effect), tv commercial & features film, ảnh tĩnh – still images , kiến trúc – Architecture ( ít hơn vray ).

V-ray: sử dụng nhiều cho kiến trúc và ảnh tĩnh.

Pixar Rendermanphát triển bởi đội ngũ kỹ thuật của Pixar studios để render những phim hoạt hình của họ. Ngoài ra cũng có một số commercial features film hiện nay dùng bộ render này ( vì Pixar có bán ).

đặt ánh sáng và “compo” tác phẩm.


Cuối cùng , khả năng và sự am hiểu về cinematography ( thuật quay phim ) đối với nghề này là rất cần thiết . “Light move when a camera move”.


Animation artist


Nếu bút vẽ là công cụ của một họa sĩ thì máy tính là “bút vẽ” của một họa sĩ CG animation.


Đây là một nghề cực kì vui nhộn nếu không để ý rằng nó cũng là một nghề khó. Giống như một diễn viên , công việc của một họa sĩ animation là đưa sự sống vào trong nhân vật mà họ thể hiện. Tuy nhiên , cách thực hiện nó thì lại hoàn toàn khác.

Thử tưởng tượng cảnh một thằng bé vô tình trông thấy một tờ polime 500k , nó sẽ làm gì? Dĩ nhiên là chạy đến nhặt. Với một diễn viên , công việc chỉ đơn giản là: bất ngờ – chạy đến – nhặt . Một diễn viên không cần phải suy nghĩ xem “ chạy như vậy có đúng vật lý không? “ hay “Cười như thế có giống người ko?” v.v… Bộ não bắt họ chạy và cười như vậy.

Về phía họa sĩ animation, bất ngờ – chạy đến – nhặt khác hơn và phức tạp hơn. Nhặt cái face control : nhấc up + low eyelid trái và phải lên, mắt mở to biểu lộ sự ngạc nhiên . 2 frames sau đó , chớp mắt vài lần trong khoảng 10 frame, tới frame thứ 11 thì bắt đầu nhấc chân trái lên , hông xoay qua trái (về cơ bản mọi chuyển động toàn thân luôn bắt đầu từ hông) , di chuyển hông, cả thân người nhân vật cũng di chuyển theo, chiều dọc 2 đơn vị maya lên trên , tay phải cho lên trước , duổi thẵng. 5 frames sau đó, chân trái chạm đất, chân phải duổi thẳng và di chuyển 3 đơn vị maya theo chiều dọc hướng lên, cổ chân xoay 65 độ theo chiều x, hông di chuyển xuống 2 đơn vị maya và cứ thế từng chi tiết một được thực hiện một cách vô cùng tỉ mỉ.

Tuy nhiên, không phải cứ tỉ mỉ là được. Người họa sĩ animation cần phải có kiến thức sâu rộng về chuyển động , về cách mà các bộ phận trên cơ thể con người chúng ta hợp tác với nhau để tạo ra những chuyển động đó. Và củng cần lưu ý rằng: họ – animator – hiểu chuyển động chứ không hề sao chép nó. Công việc của animator là đưa những nguyên tắc nghệ thuật của animation ( principles of animation ) vào trong chuyển động của nhân vật tùy theo độ tương phản thực tế vs hoạt hình của bộ phim hoặc ý đồ của đạo diễn.

Trãi qua gần 100 năm tìm tòi và sáng tác animation ( Walt Disney sáng tạo ra vào thập kỉ 1920-1930 ) , những họa sĩ animation huyền thoại đã đúc kết lại một số nguyên tắc cơ bản của hình thức nghệ thuật ( art form ) animation (principles of animation):


1/Squash and Stretch

2/Anticipation

3/Staging

4/Straight ahead action và pose to pose ( thế hệ animator mới kết hợp cả 2 phương pháp: Hyprid Method )

5/follow thought và overlapping action

6/slow in và slow out ( next-gen animator thường gọi là easy in và easy out ám chỉ rằng việc sử dụng principle này làm cho animation trở nên dễ dàng hơn đôi chút )

7/Arcs

8/Secondary action

9/Timing

10/Exaggeration

11/Solid Drawing

12/Appeal

Tác giả: Shuichi87

—————————————————————

Bài trên vẫn chưa đề cập đến nhiều vị trí khác trong CG: Character TD, Layout Artist, Storyboard Artist, Pipeline Manager, 2D Concept Artist, Visual Effects Artist, … Nhưng bạn vẫn cho thể đọc để tham khảo :D

Tác giả bài viết tương đối “phức tạp hóa vấn đề” + sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên môn. Nên các bạn nào mới làm quen đừng thấy vậy mà sợ nhé ^^.

Về Truong
CG Artist

One Response to Họa sĩ số CG – tô vẽ sáng tạo

  1. vinhlap nói:

    Thank a Tr ! đọc bài này đã lâu nhưng không hiểu gì hết, bây giờ đọc lại hiểu được chút ít =’=.
    dù sao thi cũng tiến bộ được 1 ít. hehe

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: